Chi phí logistics miền Nam Việt Nam vẫn chiếm 14-16% GDP: bình quân thế giới 10,6%, vì sao nông sản Đồng bằng sông Cửu Long vẫn phải vòng qua cảng TP.HCM
Tại Hội nghị Công Thương khu vực phía Nam lần thứ 12 tổ chức tại TP.HCM ngày 22/10/2026, ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai, nêu số liệu: chi phí logistics của khu vực kinh tế phía Nam vẫn chiếm 14-16% GDP, cao hơn rõ rệt so với bình quân thế giới 10,6%. Ba nguyên nhân cấu trúc: ùn tắc cục bộ trên các tuyến đường kết nối, liên kết giữa đường bộ - đường thuỷ nội địa - đường sắt còn yếu, hệ thống kho bãi phân mảnh và chưa kết nối hiệu quả với các đầu mối vận tải chính. Đồng bằng sông Cửu Long cụ thể hơn: trung tâm logistics cấp vùng và chợ đầu mối nông sản có kho lạnh vẫn dừng ở quy hoạch, phần lớn nông sản xuất khẩu vẫn phải chở bằng đường bộ tới cảng TP.HCM và khu vực Đông Nam Bộ, làm tăng chi phí và gây tổn thất hàng hoá. Tây Ninh năm 2025 có kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 31,4 tỷ USD nhưng năng lực kho bãi, kho ngoại quan và logistics cửa khẩu chưa theo kịp dòng hàng trên hành lang kinh tế xuyên Á. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của miền Nam đạt 2,86 triệu tỷ đồng, chiếm 48,2% cả nước. Cách tính toàn quốc có nguồn nêu 16-17% GDP. Bài viết bóc tách ba nhóm số liệu của một hội nghị, ba điểm nghẽn, hai mẫu khu vực, khác biệt cách tính toàn quốc, bốn quyết định phía nhà bán (chọn cảng, kho ngoại quan, chuỗi lạnh, vận tải đa phương thức) và các chỉ số cần theo dõi.
南部经济区物流成本占 GDP 14—16%、全球平均 10.6%、三个结构性原因(连接道路局部拥堵、公路—内河—铁路衔接差、仓储碎片化未连接枢纽)、湄公河三角洲区域一级物流中心与配套冷库的农产品批发市场尚未落地、多数出口农产品仍靠公路运至胡志明市与东南部港口、西宁 2025 年进出口额超 314 亿美元与仓储保税能力不足、南部社会消费品零售总额 2.86 千万亿越盾占全国 48.2%,均来自第 12 届南部地区工商会议(胡志明市,2026 年 10 月 22 日)上同奈省工贸厅厅长 Vũ Ngọc Long 的发言与芹苴市工贸厅、西宁省工贸部门的表述,经 ALS 物流(2026-10-26)整理报道。全国物流成本占 GDP 16—17% 的口径来自《人民军队报》(QĐND,2026-10-26)关于降低物流成本的文章。设立国家物流协调机构与绿色物流的建议,来自同一会议报道。「2.86 千万亿越盾」按原文 VND 2.86 quadrillion 换算,约为 2,860 万亿越盾;按 1 美元约 26,300 越盾折算约 1,090 亿美元,仅用于说明规模。两组物流成本口径统计范围不同,本文不做相互换算。
📎 来源:第 12 届南部地区工商会议(胡志明市,2026-10-22),经 ALS 物流报道(2026-10-26);《人民军队报》QĐND(2026-10-26)。
1. Ba nhóm số liệu từ một hội nghị
Ngày 22/10/2026 tại TP.HCM, Hội nghị Công Thương khu vực phía Nam lần thứ 12. Nhóm số liệu đầu tiên do ông Vũ Ngọc Long, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Đồng Nai, nêu ra là khoản chi phí không nên bỏ qua nhất của cả khu vực kinh tế phía Nam:
Chi phí logistics của khu vực kinh tế phía Nam chiếm 14-16% GDP;
Cách tính đối chiếu: bình quân thế giới 10,6%;
Xu hướng: đã giảm so với các năm trước nhưng vẫn còn cao.
Nhóm thứ hai là vị thế của miền Nam trong cả nước: tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ của khu vực đạt 2,86 triệu tỷ đồng (khoảng 109 tỷ USD), chiếm 48,2% cả nước. Nghĩa là gần một nửa tiêu dùng cuối cùng của Việt Nam diễn ra ở miền Nam; chi phí logistics cao hơn 3-5 điểm phần trăm tương đương một thứ thuế vô hình đánh lên nửa thị trường này.
Nhóm thứ ba là mẫu cửa khẩu Tây Ninh: năm 2025 kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh vượt 31,4 tỷ USD, nhưng năng lực kho bãi, kho ngoại quan và hạ tầng logistics cửa khẩu chưa theo kịp dòng hàng thực tế. Ba nhóm số liệu đặt cạnh nhau nói lên một điều: miền Nam không thiếu hàng, không thiếu tiêu dùng, thiếu là hạ tầng để nhận hàng rồi đưa hàng đi.
2. Ba điểm nghẽn, bóc từng cái
Theo nội dung hội nghị, chi phí cao không đến từ một khâu riêng lẻ mà là cộng dồn của ba vấn đề cấu trúc:
Ùn tắc cục bộ trên các tuyến đường kết nối. Cần chú ý chữ “cục bộ” - không phải cả mạng lưới tê liệt, mà là vài tuyến kết nối then chốt tắc vào giờ cao điểm. Tác động lên logistics là phi tuyến: một tuyến tắc hai giờ làm vòng quay cả đội xe bị xáo trộn, mọi kế hoạch phía sau trượt theo, chi phí thực tế cao hơn nhiều so với “tốn thêm vài lít dầu”.
Liên kết giữa ba phương thức vận tải còn yếu. Đường bộ, đường thuỷ nội địa và đường sắt thiếu khả năng chuyển đổi hiệu quả. Việt Nam có điều kiện tự nhiên cho vận tải thuỷ nội địa (đặc biệt miền Nam với mạng sông dày) và có tuyến đường sắt, nhưng chi phí và thời gian ở khâu “chuyển tải” đã ăn hết lợi thế của vận tải đa phương thức - một chặng trung chuyển ngắn từ cảng ra ga có thể đắt và chậm hơn cả cước đường dài.
Kho bãi phân mảnh. Số lượng kho không ít nhưng quy mô nhỏ, tiêu chuẩn không đồng nhất và chưa kết nối hiệu quả với các đầu mối vận tải chính. Kết quả là “có kho mà không dùng được, có hàng mà không có chỗ chứa”, cao điểm thì tràn kho, thấp điểm thì kho trống.
Điểm chung của ba nút thắt: không doanh nghiệp đơn lẻ nào giải quyết được, mà phải dựa vào đầu tư công ở tầng đầu mối và tầng kết nối. Hiểu điều này rất quan trọng khi đánh giá “bao giờ tình hình tốt lên” - nó sẽ không thay đổi chỉ vì một sàn thương mại điện tử xây thêm một kho.
3. Đồng bằng sông Cửu Long: hai dự án “chưa thành hiện thực” quyết định tuyến xuất khẩu
Phần mô tả về Đồng bằng sông Cửu Long là cụ thể nhất và đáng đọc kỹ nhất với nhà xuất khẩu. Đây là vùng nông sản và thuỷ sản lớn nhất Việt Nam, nhưng hạ tầng logistics sau thu hoạch vẫn yếu, thể hiện ở hai dự án:
Trung tâm logistics cấp vùng hạng I đã được quy hoạch;
Chợ đầu mối nông sản có kho lạnh đi kèm.
Theo Sở Công Thương Cần Thơ, hai dự án này đến nay vẫn chưa triển khai. Hệ quả có thể tính được: phần lớn nông sản xuất khẩu vẫn phải chở bằng đường bộ tới cảng TP.HCM và khu vực Đông Nam Bộ rồi mới lên tàu. Tuyến này tạo ba tầng chi phí:
Khoản chi phí
Cơ chế
Ai chịu
Chi phí vận chuyển
Đường bộ đường dài thay cho trung chuyển cộng đường thuỷ, giá trên tấn-km cao hơn
Trước hết nhà xuất khẩu, cuối cùng phản ánh vào giá thu mua
Tổn thất hàng hoá
Thiếu kho lạnh và khâu làm lạnh sơ bộ, hàng tươi sống hao hụt trên đường
Nhà xuất khẩu và nông dân chia nhau
Sức cạnh tranh giá
Hai khoản trên cộng vào giá FOB, ép không gian đàm phán
Cả chuỗi
Với doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng tươi sống, thuỷ sản, rau quả, thông tin này có cách dùng trực tiếp: khi thu mua tại Đồng bằng sông Cửu Long, phải tính giá theo tuyến thực tế “đường bộ thẳng ra cảng”, không tính theo tuyến lý tưởng “đã có trung tâm logistics cấp vùng”. Chênh lệch giữa hai cách tính có thể lên tới hai chữ số phần trăm.
4. Mẫu Tây Ninh: dòng hàng cửa khẩu chạy trước hạ tầng
Tây Ninh nằm ở biên giới tây nam, trên hành lang kinh tế xuyên Á. Năm 2025 kim ngạch xuất nhập khẩu của tỉnh vượt 31,4 tỷ USD, nhưng Sở Công Thương tỉnh nêu rõ: năng lực kho bãi, kho ngoại quan và hạ tầng logistics biên giới chưa theo kịp dòng hàng thực tế.
Giá trị của mẫu này là nó phơi ra một lệch pha thường gặp ở thương mại biên giới: năng lực thông quan tăng nhanh, năng lực nhận hàng tăng chậm. Kết quả là hàng xếp hàng quanh cửa khẩu, thuê kho tạm, bốc xếp hai lần, mỗi khâu đều cộng tiền. Với doanh nghiệp làm thương mại biên giới Việt - Trung, điều này có nghĩa:
Số liệu “lưu lượng thông quan” đẹp không đồng nghĩa “hàng của bạn đi qua với chi phí thấp”;
Khả năng có kho ngoại quan và kho lạnh thường ảnh hưởng tổng chi phí nhiều hơn thời gian thông quan;
Vào cao điểm (nông sản vào vụ, dự trữ trước lễ), thứ thiếu không bao giờ là đội xe mà là vị trí kho có kiểm soát nhiệt độ và có cửa xuất hàng.
5. Cách tính toàn quốc 16-17%: đừng trộn hai con số
Cần phân biệt hai cách tính, nếu không sẽ ra kết luận sai:
Khu vực phía Nam 14-16%: cách tính theo vùng do hội nghị nêu, đối chiếu bình quân thế giới 10,6%.
Toàn quốc 16-17%: cách tính toàn quốc được báo chí Việt Nam cùng thời điểm trích dẫn (bài về giảm chi phí logistics của Báo Quân đội nhân dân, 26/10/2026).
Hai con số không thể thay thế nhau, cũng không thể trừ nhau để kết luận “miền Nam thấp hơn cả nước” - phạm vi thống kê, mẫu số và năm có thể khác nhau. Điều chắc chắn chỉ có một: dù dùng cách tính nào, tỷ trọng chi phí logistics trên GDP của Việt Nam đều cao hơn bình quân thế giới, và trung tâm kinh tế phía Nam không có lợi thế ở khoản này.
Về cơ cấu chi phí, vấn đề dài hạn của Việt Nam là đường bộ chiếm tỷ trọng quá cao trong khối lượng vận tải. Chi phí đơn vị của đường bộ cao hơn đường sắt và đường thuỷ, lại chịu ảnh hưởng mạnh của ùn tắc và giá nhiên liệu. Muốn giảm chi phí, hướng đi không phải “mua thêm xe tải” mà là “chuyển hàng từ đường bộ sang đường sắt và đường thuỷ” - đúng vào điểm “liên kết còn yếu” mà hội nghị nêu.
6. Giải pháp hội nghị nêu: một cơ quan điều phối quốc gia và logistics xanh
Trước áp lực chi phí và yêu cầu chuyển đổi xanh, Sở Công Thương các tỉnh phía Nam nêu hai nhóm đề xuất:
Thành lập cơ quan điều phối logistics ở cấp quốc gia. Logic là gom các trách nhiệm đang phân tán ở giao thông, công thương, tài chính, hải quan và địa phương về một đầu mối, tránh tình trạng “ai cũng quản, không ai điều phối”. Cơ quan này có được thành lập hay không, và nếu có thì có thẩm quyền đến đâu, là biến số chính sách đáng theo dõi nhất.
Logistics xanh. Gồm tối ưu cơ cấu phương thức vận tải, quản lý năng lượng và phát thải, cùng tiêu chuẩn xanh ở cấp khu công nghiệp. Với doanh nghiệp xuất khẩu, đây không thuần là chi phí tuân thủ: yêu cầu công bố phát thải chuỗi cung ứng tại các thị trường như EU đang siết dần, bên làm sớm có cơ sở hơn khi báo giá.
7. Phía nhà bán: bốn quyết định có thể làm ngay
Hạ tầng không đổi trong ngắn hạn, nhưng cơ cấu chi phí của doanh nghiệp thì điều chỉnh được. Bốn việc, xếp theo hiệu quả trên vốn đầu tư:
Quyết định một: chọn cảng và tuyến vào cảng phải tính theo “tổng thời gian chuỗi”, không phải theo cước biển. Cước biển qua TP.HCM và cụm cảng Đông Nam Bộ (Cái Mép - Thị Vải) có thể thấp hơn, nhưng nếu nhà máy ở Đồng bằng sông Cửu Long thì thời gian và tổn thất của tuyến đường bộ phải tính cùng. Có trường hợp đi đường thuỷ tới điểm trung chuyển rồi trung chuyển ngắn có tổng chi phí thấp hơn.
Quyết định hai: chốt vị trí kho ngoại quan và kho lạnh trước, đừng thuê theo nhu cầu. Mẫu Tây Ninh cho thấy vị trí kho là nguồn lực khan hiếm. Chốt trước cao điểm 1-2 tháng thường có giá thấp hơn tìm kho tạm, và bảo đảm có cửa xuất hàng và kiểm soát nhiệt độ.
Quyết định ba: hàng tươi sống và thuỷ sản phải đưa “làm lạnh sơ bộ” vào hợp đồng thu mua. Đồng bằng sông Cửu Long thiếu đúng khâu làm lạnh sơ bộ và kho lạnh. Ghi rõ trách nhiệm làm lạnh sơ bộ, hồ sơ nhiệt độ và chia sẻ tổn thất vào hợp đồng rẻ hơn nhiều so với tranh chấp sau đó.
Quyết định bốn: nhóm hàng đi được vận tải đa phương thức thì làm một tuyến thí điểm trước. Không phải mọi loại hàng đều phù hợp, nhưng nhóm khối lượng lớn, thời gian linh hoạt, giá trị trung bình (vật liệu xây dựng, nội thất, bao bì, một phần nông sản) đáng thử đường thuỷ hoặc đường sắt. Mục tiêu của thí điểm không phải tiết kiệm ngay mà là có số liệu thật về thời gian và chi phí chuyển tải.
8. Chỉ số theo dõi: tín hiệu nào cho thấy tình hình thực sự cải thiện
Trung tâm logistics cấp vùng và chợ đầu mối có kho lạnh đã khởi công chưa. Đây là biến số then chốt của cơ cấu chi phí Đồng bằng sông Cửu Long: từ “quy hoạch” sang “khởi công” là tín hiệu thật thứ nhất, từ “khởi công” sang “vận hành” là tín hiệu thứ hai.
Tỷ trọng khối lượng vận tải đường sắt và đường thuỷ nội địa ở miền Nam có tăng không. Nếu đường bộ vẫn chiếm tuyệt đối, dư địa giảm chi phí còn hẹp.
Diễn biến giá thuê kho ngoại quan và kho lạnh. Giá thuê tiếp tục tăng nghĩa là khoảng trống đang mở rộng chứ không phải đang được lấp.
Cơ quan điều phối logistics quốc gia có được thành lập không và thẩm quyền đến đâu. Không có đầu mối điều phối, vấn đề liên kết giữa các bộ ngành sẽ tiếp tục bị kéo dài.
9. Câu hỏi thường gặp
Hỏi: Chi phí logistics 14-16% GDP có nghĩa làm xuất khẩu tại Việt Nam không có lợi? Không thể suy ra như vậy. Đây là tỷ lệ bình quân của cả nền kinh tế, khác biệt giữa các nhóm hàng rất lớn. Nhóm giá trị cao, khối lượng nhỏ ít nhạy với chi phí logistics; nhóm hàng khối lượng lớn, giá trị thấp, nặng mới thực sự bị ăn vào lợi nhuận. Cần nhìn tỷ lệ “chi phí logistics trên giá trị hàng” của chính mình.
Hỏi: Vì sao chi phí miền Nam nhìn như thấp hơn bình quân cả nước? Hai con số có phạm vi tính khác nhau (theo vùng và toàn quốc), không so trực tiếp được. Bài viết dẫn cả hai để cho thấy “dù cách tính nào cũng cao hơn bình quân thế giới”, không nhằm xếp hạng.
Hỏi: Vận tải đa phương thức ở Việt Nam hiện có khả thi không? Khả thi nhưng phụ thuộc nhóm hàng và tuyến. Nút thắt nằm ở khâu chuyển tải chứ không ở tuyến chính, nên thí điểm phải chọn tuyến có hai đầu đều gần bãi container hoặc ga, nếu không chi phí trung chuyển sẽ ăn hết phần tiết kiệm.
Hỏi: Logistics xanh hiện có phải yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp xuất khẩu? Với phần lớn thị trường chưa phải rào cản cứng, nhưng yêu cầu công bố đang siết và đã ảnh hưởng việc sàng lọc nhà cung cấp của khách lớn. Coi nó là “năng lực báo giá” thay vì “gánh nặng tuân thủ” sẽ thực tế hơn.
10. Ghi chú nguồn số liệu
Các số liệu và nhận định sau đều lấy từ Hội nghị Công Thương khu vực phía Nam lần thứ 12 (TP.HCM, 22/10/2026), qua phần tổng hợp của ALS Logistics (26/10/2026): chi phí logistics khu vực kinh tế phía Nam chiếm 14-16% GDP và bình quân thế giới 10,6%; ba nguyên nhân cấu trúc gồm ùn tắc cục bộ trên tuyến kết nối, liên kết đường bộ - đường thuỷ nội địa - đường sắt còn yếu, kho bãi phân mảnh chưa kết nối đầu mối; trung tâm logistics cấp vùng hạng I và chợ đầu mối nông sản có kho lạnh tại Đồng bằng sông Cửu Long chưa triển khai; phần lớn nông sản xuất khẩu vẫn chở bằng đường bộ tới cảng TP.HCM và Đông Nam Bộ; Tây Ninh năm 2025 có kim ngạch xuất nhập khẩu hơn 31,4 tỷ USD nhưng năng lực kho bãi và kho ngoại quan chưa theo kịp; tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ miền Nam 2,86 triệu tỷ đồng, chiếm 48,2% cả nước. Cách tính toàn quốc 16-17% GDP lấy từ bài về giảm chi phí logistics của Báo Quân đội nhân dân (26/10/2026). Đề xuất thành lập cơ quan điều phối logistics quốc gia và logistics xanh lấy từ cùng nguồn hội nghị. Con số “2,86 triệu tỷ đồng” theo nguyên văn VND 2.86 quadrillion; quy đổi khoảng 109 tỷ USD theo tỷ giá khoảng 26.300 đồng/USD, chỉ dùng để minh hoạ quy mô. Hai cách tính chi phí logistics có phạm vi thống kê khác nhau, bài viết không quy đổi lẫn nhau.
📎 Nguồn: Hội nghị Công Thương khu vực phía Nam lần thứ 12 (TP.HCM, 22/10/2026), qua ALS Logistics (26/10/2026); Báo Quân đội nhân dân (26/10/2026).