Tuần lễ Số Quốc tế Việt Nam 2026 khép lại: Bộ trưởng nói không đo AI bằng số dự án, 500 đại biểu từ gần 30 nước, doanh nghiệp nên nhìn ba việc
2026 年 10 月 28—30 日,越南科技部与广宁省在广宁举办越南国际数字周(VIDW 2026),主题「发展智能连接、AI 治理、创造 AI 转型」,约 500 位代表来自近 30 个国家。科技部长武海君(Vũ Hải Quân)在开幕致辞中给出一个会改变 AI 项目验收口径的判断:AI 的价值要用公共服务更好、生产率更高、企业更强、生活质量更高来衡量,而不是用战略、试点项目或模型的数量。他提出三项优先(智能连接、AI 治理、创造转型)与三项承诺(增强国家 AI 能力尤其人力、建设开放创新环境与基于风险的管理加受控试验、扩大国际合作)。圆桌环节给出两组硬数据:联合国教科文组织驻越代表指出越南企业数据碎片化、越南语训练语料稀缺、少数民族语料更少;胡志明市国家大学代表称该校 AI 与计算领域近 2 万学习者、2025 年发表约 1,600 篇国际论文,但仅约 3% 有企业参与、不到 10% 的研究项目有企业参加。人力侧另有 1528/QĐ-TTg 号决定(2026 年 8 月 11 日)的 2030 目标:5 万名应用型 AI 人才、1 万名高阶人才(含至少 1,500 名掌握核心技术的专家)、10 个先进研究中心(其中 5—7 个达区域水平)、25 所重点高校。文章拆解会议的三个关键词、部长的验收口径、两组硬数据、越韩论坛的三个合作方向与韩国 AI 抵用券机制、企业的三个动作与六个观察指标。
Từ 28 đến 30/10/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức Tuần lễ Số Quốc tế Việt Nam 2026 (VIDW 2026) với chủ đề “Phát triển kết nối thông minh, Quản trị AI, Kiến tạo chuyển đổi AI”, khoảng 500 đại biểu từ gần 30 quốc gia tham dự. Phát biểu khai mạc, Bộ trưởng Vũ Hải Quân nêu một cách đánh giá sẽ thay đổi tiêu chí nghiệm thu dự án AI: giá trị của AI phải được đo bằng dịch vụ công tốt hơn, năng suất cao hơn, doanh nghiệp vững mạnh hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn, chứ không phải bằng số chiến lược, số dự án thí điểm hay số mô hình. Ông nêu ba ưu tiên (kết nối thông minh, quản trị AI, kiến tạo chuyển đổi) và ba cam kết (tăng năng lực AI quốc gia, nhất là nhân lực; môi trường đổi mới mở với quản lý dựa trên rủi ro và thử nghiệm có kiểm soát; mở rộng hợp tác quốc tế). Phiên bàn tròn đưa ra hai nhóm số liệu: đại diện UNESCO tại Việt Nam chỉ ra dữ liệu doanh nghiệp phân mảnh, kho ngữ liệu tiếng Việt khan hiếm, ngữ liệu cho dân tộc thiểu số càng ít; đại diện Đại học Quốc gia TP.HCM cho biết đơn vị có gần 20.000 người học lĩnh vực công nghệ thông tin, điện toán và AI, năm 2025 công bố khoảng 1.600 bài báo quốc tế, nhưng chỉ khoảng 3% có hợp tác doanh nghiệp và chưa đến 10% dự án nghiên cứu có doanh nghiệp tham gia. Về nhân lực, Quyết định 1528/QĐ-TTg ngày 11/8/2026 đặt mục tiêu đến 2030: 50.000 nhân lực có năng lực ứng dụng AI, 10.000 nhân lực trình độ cao (trong đó ít nhất 1.500 chuyên gia làm chủ công nghệ lõi), 10 trung tâm đào tạo nghiên cứu tiên tiến (5-7 trung tâm đạt trình độ khu vực), 25 cơ sở đại học trọng điểm. Bài viết bóc tách ba từ khoá của tuần lễ, tiêu chí nghiệm thu của Bộ trưởng, hai nhóm số liệu, ba hướng hợp tác Việt - Hàn và cơ chế phiếu hỗ trợ AI của Hàn Quốc, ba việc doanh nghiệp nên làm và sáu chỉ số cần theo dõi.
Ngày 28-30/10/2026, tại Quảng Ninh. Tuần lễ Số Quốc tế Việt Nam 2026 (VIDW 2026) do Bộ Khoa học và Công nghệ phối hợp UBND tỉnh Quảng Ninh tổ chức, chủ đề ba vế: phát triển kết nối thông minh, quản trị AI, kiến tạo chuyển đổi AI. Quy mô: khoảng 500 đại biểu đến từ gần 30 quốc gia, gồm cơ quan chính phủ, tổ chức quốc tế, doanh nghiệp công nghệ, viện nghiên cứu và trường đại học.
Loại hội nghị này thường bị đọc như “phát biểu chính sách”, nhưng với người làm triển khai công nghệ, thông tin thực sự có giá trị chỉ có hai loại: tiêu chí nghiệm thu đã đổi chưa, và nguồn lực đang đổ vào đâu. VIDW năm nay cho tín hiệu rõ ở cả hai điểm.
Cần phân biệt ba tầng, nếu không phần sau sẽ dễ lẫn:
Tầng
Văn bản / dịp
Quản cái gì
Chiến lược
Chiến lược quốc gia về AI (phê duyệt 28/8/2026, đến 2030, tầm nhìn 2045)
Định hướng quốc gia, hạ tầng tính toán và hệ sinh thái
Nhân lực
Quyết định 1528/QĐ-TTg (11/8/2026)
Đến 2030 đào tạo bao nhiêu người, ở tầng nào
Thực thi
Các phiên thảo luận của VIDW 2026
Nghiệm thu thế nào, phân công liên ngành, cách nối hợp tác quốc tế
2. Một câu của Bộ trưởng thay đổi tiêu chí nghiệm thu dự án AI
Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân nói tại lễ khai mạc một câu ảnh hưởng trực tiếp đến mua sắm và nghiệm thu dự án:
Giá trị của AI phải được đo bằng dịch vụ công tốt hơn, năng suất cao hơn, doanh nghiệp vững mạnh hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn, chứ không phải bằng số chiến lược, số dự án thí điểm hay số mô hình mới.
Ông đưa ra định hướng tiếp theo: Việt Nam cần chuyển từ những dự án AI riêng lẻ sang chuyển đổi AI trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Quanh định hướng đó, hội nghị xếp ba ưu tiên:
Kết nối thông minh là nền móng. AI cần mạng thế hệ mới, trung tâm dữ liệu và năng lực tính toán. Quốc gia có nguồn lực hạn chế phải đồng thời bảo đảm phổ cập kết nối và đầu tư hạ tầng năng lực cao, huy động khu vực tư nhân, bảo đảm hạ tầng xanh và tiết kiệm năng lượng.
Quản trị AI là cơ sở của niềm tin. Mỗi cách tiếp cận phải cân bằng giữa linh hoạt và chắc chắn về pháp lý, giữa đổi mới và bảo vệ người dân. Khi AI và dữ liệu vượt biên giới, khung quản trị tương thích và dòng dữ liệu tin cậy càng quan trọng.
Chuyển đổi AI phải ra kết quả thực chất. Không phải làm thí điểm đẹp, mà đưa công nghệ vào vận hành của toàn bộ nền kinh tế - xã hội.
Đi kèm là ba cam kết: tăng năng lực AI quốc gia, nhất là nhân lực; xây dựng môi trường đổi mới mở với quản lý dựa trên rủi ro và thử nghiệm có kiểm soát; mở rộng hợp tác quốc tế về nghiên cứu, đào tạo, dữ liệu, tiêu chuẩn và ứng dụng. Ông cũng sửa một hiểu lầm phổ biến: “tự chủ” không phải làm một mình, mà là xây dựng năng lực để hợp tác bình đẳng.
Với nhà cung cấp và người phụ trách dự án phía khách hàng, giá trị thực dụng của đoạn này là: “chúng tôi đã đưa một hệ thống AI vào chạy” không còn là lý do nghiệm thu hợp lệ. Sản phẩm bàn giao phải trả lời được ba con số: thời gian xử lý giảm bao nhiêu, giờ công tiết kiệm bao nhiêu, tỷ lệ lỗi hoặc làm lại giảm bao nhiêu. Đặt ba con số đó ở trang đầu đề xuất hiệu quả hơn nhiều so với nói về tham số mô hình.
3. Số liệu cứng tại hội trường: khoảng cách giữa 3% và 10%
Phần có thông tin nhất của phiên bàn tròn không phải tầm nhìn, mà là hai nhóm số có phần thập phân.
Nhóm thứ nhất từ đại diện UNESCO tại Việt Nam, ông Jonathan Wallace Baker. Ông chỉ ra ba nút thắt của hệ sinh thái AI Việt Nam rất cụ thể:
Dữ liệu: dữ liệu doanh nghiệp phân mảnh, khó chia sẻ; ngữ liệu huấn luyện tiếng Việt khan hiếm; ngữ liệu phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số càng ít.
Nhân lực: vẫn thiếu người trong học máy, xử lý ngôn ngữ tự nhiên và nghiên cứu liên ngành.
Đạo đức và quản trị: cần thúc đẩy đánh giá tác động AI, bảo vệ quyền con người và kiểm soát rủi ro.
Giải pháp ông đề xuất là hợp tác công - tư để xây nền tảng dữ liệu mở, đồng thời bảo đảm quyền riêng tư và chất lượng dữ liệu. Câu này cũng hữu ích cho doanh nghiệp Trung Quốc sang Việt Nam: ngữ liệu tiếng Việt không phải thứ “tiện tay lấy một ít” là đủ, nó là tài sản cần đầu tư dài hạn.
Nhóm thứ hai từ phía đại học. Phó Trưởng khoa Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia TP.HCM, PGS.TS Nguyễn Văn Vũ, nêu:
Đơn vị có gần 20.000 người học trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện toán và AI;
Năm 2025 công bố khoảng 1.600 bài báo quốc tế về AI và lĩnh vực liên quan;
Nhưng chỉ khoảng 3% bài báo có hợp tác doanh nghiệp, chưa đến 10% dự án nghiên cứu có doanh nghiệp tham gia.
Cùng phiên, quy mô của cả hệ thống cũng được nêu: khoảng 6.500 cán bộ, viên chức và người lao động, trong đó khoảng 1.600 người có bằng tiến sĩ; gần 100.000 sinh viên đại học và khoảng 10.000 học viên sau đại học; hơn 800 tiến sĩ trong lĩnh vực AI và tính toán, trong đó khoảng 170 người trực tiếp làm AI.
Hai con số 3% và 10% nói rõ hơn mọi khẩu hiệu về vấn đề cấu trúc của AI Việt Nam: sản lượng bài báo không thiếu, thiếu là kênh nối nghiên cứu với nhu cầu công nghiệp. Hàm ý cho doanh nghiệp là hai chiều - nguồn cung nhân lực cho các dự án tùy biến không thiếu; nhưng kỳ vọng “lấy sẵn giải pháp từ trường đại học là dùng được ngay” phần lớn sẽ thất vọng, dự án liên kết phải tự mang bối cảnh và dữ liệu vào.
4. Sổ nhân lực: mục tiêu 2030 của Quyết định 1528
VIDW nhắc nhiều lần “nhân lực là yếu tố quyết định”; chỉ tiêu cụ thể nằm ở Quyết định 1528/QĐ-TTg (11/8/2026, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký). Mục tiêu đến 2030 đọc theo ba tầng:
Tầng
Mục tiêu 2030
Phổ cập (học sinh, công chức, người lao động)
Ít nhất 80% học sinh phổ thông và dự bị đại học có kiến thức AI cơ bản; 100% người học đại học và ít nhất 80% giáo dục nghề nghiệp; ít nhất 90% cán bộ trong đơn vị sự nghiệp công lập, riêng lĩnh vực giáo dục 100%; ít nhất 100.000 giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được bồi dưỡng chuyên sâu; ít nhất 10 triệu lao động được đào tạo kỹ năng AI cơ bản
Tầng ứng dụng
Đào tạo mới, đào tạo chuyển đổi và bồi dưỡng nâng cao ít nhất 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI trong các ngành trọng điểm
Tầng chuyên sâu
Ít nhất 10.000 nhân lực AI trình độ cao (nhà nghiên cứu, kỹ sư, chuyên gia), trong đó ít nhất 1.500 chuyên gia đủ năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ lõi
Tầng thiết chế
Ít nhất 10 trung tâm đào tạo và nghiên cứu AI tiên tiến (5-7 trung tâm đạt trình độ khu vực); ít nhất 25 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm; 100% cơ sở đại học ban hành quy định sử dụng AI
Tác động lên thị trường tuyển dụng có thể suy ra: người “biết gọi API” sẽ nhanh chóng thành mức cấu hình tối thiểu; người “nối được AI vào quy trình nghiệp vụ và tính ra được tiền” mới là hàng khan. Con số 1.500 đáng chú ý nhất - đó là trần năng lực cho “tự chủ công nghệ lõi”, cũng có nghĩa trong ngắn hạn Việt Nam vẫn phụ thuộc hợp tác bên ngoài ở mô hình nền tảng và chuỗi công cụ tầng thấp, chứ chưa tự làm toàn bộ.
5. Diễn đàn Việt - Hàn: ba hướng và một công cụ được nhắc nhiều lần
Cùng thời gian, ngày 29/10 tại Hà Nội diễn ra Diễn đàn AI và Công nghệ số Việt Nam - Hàn Quốc 2026, do Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ Thông tin Hàn Quốc, Bộ Ngoại giao Hàn Quốc và Cơ quan Xúc tiến Công nghiệp Công nghệ thông tin Quốc gia Hàn Quốc (NIPA) tổ chức. Thứ trưởng Trần Trung Tính nêu ba hướng hợp tác:
Nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI, đặc biệt mô hình AI nền tảng, mô hình ngôn ngữ lớn và giải pháp phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ. Yêu cầu là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, hướng tới sản phẩm có khả năng thương mại hóa.
Hạ tầng dữ liệu và năng lực tính toán, gồm hạ tầng thử nghiệm và công nghệ bán dẫn. Hướng là mở rộng khả năng tiếp cận nguồn lực cho doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu.
Đào tạo nhân lực gắn với nghiên cứu và triển khai, qua trao đổi chuyên gia, nghiên cứu chung, đào tạo kỹ sư và nâng cao kỹ năng AI cho người lao động.
Kinh nghiệm phía Hàn Quốc có một cơ chế rất cụ thể. Ông Kim Deuk-Jung, Phó Chủ tịch NIPA, cho biết Hàn Quốc triển khai hai loại hỗ trợ: một là chương trình cung cấp hạ tầng tính toán GPU để doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực với chi phí thấp hơn cho nghiên cứu, thử nghiệm và phát triển; hai là phiếu hỗ trợ AI (AI voucher) giúp giảm chi phí tiếp cận sản phẩm, dịch vụ AI, đồng thời kích cầu thị trường và tạo cơ hội cho bên cung cấp giải pháp.
Công cụ “phiếu hỗ trợ” đáng để doanh nghiệp Trung Quốc lưu ý: nó trợ lực cả phía cầu và phía cung, dễ tạo đơn hàng thật hơn là chỉ tài trợ nghiên cứu. Việt Nam hiện chưa có cơ chế quốc gia tương ứng hoàn chỉnh, nhưng định hướng đã được nêu rõ - Việt Nam mong NIPA chia sẻ kinh nghiệm và nghiên cứu khả năng mở rộng hợp tác.
Về nền tảng pháp lý, phía Việt Nam nhắc Luật Công nghiệp công nghệ số năm 2025 đã tạo cơ sở cho lĩnh vực này, và mong tiếp tục mở rộng các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trên cơ sở đó.
6. Phía doanh nghiệp: ba việc
Nén ba ngày hội nghị thành hành động, chỉ ba việc đáng làm ngay.
Việc một: viết lại đề xuất theo “ngôn ngữ kết quả”. Phát biểu của Bộ trưởng tương đương việc đưa cho khách hàng một cây thước. Mọi đề xuất AI hướng tới khu vực công hoặc doanh nghiệp lớn nên đặt ở trang đầu: thời gian xử lý (trước/sau), nhân lực bỏ ra (trước/sau), tỷ lệ lỗi hoặc làm lại, chi phí đơn vị. Dự án chưa có số nền thì nên dành hai tuần đo trước, rồi mới bàn mô hình.
Việc hai: coi dữ liệu tiếng Việt là tài sản, không phải vật tư tiêu hao. UNESCO chỉ ra đúng khoảng trống cấu trúc: dữ liệu doanh nghiệp phân mảnh, ngữ liệu tiếng Việt khan hiếm, ngữ liệu dân tộc thiểu số càng ít. Điều này đúng ở hai chiều - tuân thủ dữ liệu sẽ là ngưỡng cửa, ngữ liệu chất lượng sẽ là hào cạnh tranh. Doanh nghiệp làm ứng dụng chăm sóc khách hàng, nội dung, kiểm duyệt nên xây bộ ngữ liệu và bộ đánh giá tiếng Việt theo lĩnh vực càng sớm càng tốt.
Việc ba: theo dõi “thử nghiệm có kiểm soát” và các kênh hỗ trợ. Trong ba cam kết có ghi rõ “quản lý dựa trên rủi ro và thử nghiệm có kiểm soát”. Khi cơ chế này hạ xuống từng ngành cụ thể (tài chính, y tế, giáo dục), lợi thế của người vào trước không nằm ở công nghệ, mà ở việc có được phép chạy dữ liệu thật trong bối cảnh thật. Đồng thời theo dõi các hỗ trợ kiểu hạ tầng tính toán và phiếu hỗ trợ có thể xuất hiện trong khuôn khổ hợp tác Việt - Hàn.
7. Sáu chỉ số cần theo dõi
Văn bản hướng dẫn của Chiến lược quốc gia về AI và Quyết định 1528 có được ban hành không, nhất là cơ chế tài chính và đánh giá.
Nguồn cung hạ tầng tính toán công (bể GPU quốc gia, nền tảng chia sẻ) - yếu tố quyết định chi phí thử sai của doanh nghiệp nhỏ.
Thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) rơi vào ngành nào trước và ngưỡng đầu vào.
Ngữ liệu mở và bộ đánh giá tiếng Việt có dự án cấp nhà nước hoặc liên minh hay không.
Tỷ lệ hợp tác đại học - doanh nghiệp (hiện 3% và 10%) có được đưa vào đánh giá hay không.
Danh mục dự án hợp tác Việt - Hàn, nhất là bán dẫn, hạ tầng thử nghiệm và đào tạo chung.
8. Câu hỏi thường gặp
Hỏi: VIDW là hội chợ hay hội nghị chính sách? Làm ăn được gì? Cả hai, nhưng giá trị nằm ở tiêu chí chính sách. Nó xác định “dự án AI thành công được tính thế nào”, và điều này lan xuống hồ sơ mời thầu cùng tiêu chuẩn nghiệm thu.
Hỏi: Tỷ lệ hợp tác 3% nghĩa là không hợp tác được với trường đại học Việt Nam? Ngược lại. Nó cho thấy kênh chưa được xây, người vào trước nhận được vị trí hợp tác khan hiếm. Nhưng cần chuẩn bị tâm thế: trường giỏi thuật toán và nghiên cứu, còn bối cảnh, dữ liệu và kỹ nghệ thường do doanh nghiệp tự gánh.
Hỏi: Cơ chế phiếu hỗ trợ AI có cho doanh nghiệp nước ngoài xin không? Hiện là cơ chế nội địa của Hàn Quốc, Việt Nam mới bày tỏ ý định hợp tác. Giai đoạn này nên theo dõi danh mục dự án hợp tác Việt - Hàn để xem có mở nộp chung hay không.
Hỏi: Ngữ liệu tiếng Việt khan hiếm có buộc phải huấn luyện lại mô hình? Phần lớn bối cảnh không cần. Cách thực tế hơn là mô hình tổng quát kết hợp tinh chỉnh hoặc truy xuất tăng cường bằng ngữ liệu chuyên ngành, cộng bộ đánh giá nội địa. Thật sự cần huấn luyện lại là các cảnh giọng nói, pháp lý và ngôn ngữ dân tộc thiểu số.
9. Ghi chú nguồn dữ liệu
Thời gian (28-30/10/2026), địa điểm (Quảng Ninh), chủ đề “Phát triển kết nối thông minh, Quản trị AI, Kiến tạo chuyển đổi AI”, quy mô khoảng 500 đại biểu từ gần 30 quốc gia, phát biểu của Bộ trưởng Vũ Hải Quân về việc đo giá trị AI bằng dịch vụ công, năng suất, năng lực doanh nghiệp và chất lượng cuộc sống thay vì số chiến lược/dự án thí điểm/mô hình, ba ưu tiên và ba cam kết, quan điểm “tự chủ không phải làm một mình”, đều lấy từ Cổng thông tin Bộ Khoa học và Công nghệ (mst.gov.vn, 27-29/10) và các bài tường thuật khai mạc của VTV/Vietnam.vn. Phát biểu của đại diện UNESCO Jonathan Wallace Baker về dữ liệu phân mảnh, ngữ liệu tiếng Việt và dân tộc thiểu số khan hiếm, đề xuất nền tảng dữ liệu mở công - tư, lấy từ bài về phiên bàn tròn trên mst.gov.vn (28/10) và báo Thanh tra (27/10). Số liệu của PGS.TS Nguyễn Văn Vũ (gần 20.000 người học, khoảng 1.600 bài báo quốc tế năm 2025, khoảng 3% có hợp tác doanh nghiệp, chưa đến 10% dự án nghiên cứu có doanh nghiệp) và quy mô hệ thống (6.500 cán bộ, khoảng 1.600 tiến sĩ, gần 100.000 sinh viên, hơn 800 tiến sĩ AI và tính toán, khoảng 170 tiến sĩ AI) lấy từ cùng các bài trên. Mục tiêu 2030 của Quyết định 1528/QĐ-TTg (11/8/2026): 50.000 nhân lực ứng dụng AI, 10.000 nhân lực trình độ cao gồm ít nhất 1.500 chuyên gia công nghệ lõi, các tỷ lệ 80%/100%/90%, 100.000 giáo viên, 10 triệu lao động, 10 trung tâm tiên tiến trong đó 5-7 trung tâm đạt trình độ khu vực, 25 cơ sở đại học trọng điểm, lấy từ sav.gov.vn (12/8/2026), mst.gov.vn (10/9/2026) và VietNamNet (11/8/2026). Diễn đàn AI và Công nghệ số Việt - Hàn (29/10/2026, Hà Nội), ba hướng hợp tác, chia sẻ của Phó Chủ tịch NIPA Kim Deuk-Jung về hạ tầng GPU và phiếu hỗ trợ AI, Luật Công nghiệp công nghệ số 2025, lấy từ VOVlive (30/10/2026) và mst.gov.vn (29/10/2026). Định hướng của Quảng Ninh về cửa khẩu thông minh, khu công nghệ số và khu kinh tế đặc biệt lấy từ bài khai mạc trên mst.gov.vn. Mốc Chiến lược quốc gia về AI được phê duyệt ngày 28/8/2026 lấy từ cùng bài trên mst.gov.vn.