Ngày 8/10/2026, Diễn đàn Thương mại điện tử xuyên biên giới Việt Nam (VOIEF 2026) diễn ra tại Hà Nội với chủ đề 'Tác động của chuyển đổi số trong hải quan', quy tụ hơn 250 đại biểu từ cơ quan quản lý, nền tảng, đơn vị logistics và tổ chức hỗ trợ xuất khẩu. Số liệu công bố tại diễn đàn: quy mô thị trường TMĐT Việt Nam năm 2025 khoảng 31 tỷ USD, thuộc nhóm 10 thị trường lớn nhất thế giới và thứ ba ASEAN; xuất khẩu qua kênh trực tuyến tăng 78%, nhưng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua kênh TMĐT chỉ khoảng 4,45 tỷ USD, xuất khẩu trực tuyến năm 2025 ước khoảng 2 tỷ USD. Báo cáo cuối tháng 9/2026 của SHS Securities cho biết thị trường TMĐT xuyên biên giới toàn cầu đã vượt 800 tỷ USD trong khi doanh nghiệp Việt Nam mới chạm khoảng 5,5 tỷ USD. Cùng thời điểm, Điều 16a của Luật Hải quan sửa đổi đưa hàng hóa TMĐT xuyên biên giới vào diện thủ tục và giám sát hải quan, yêu cầu xác thực điện tử danh tính người mua - người bán và buộc nền tảng kết nối với hệ thống dữ liệu TMĐT của hải quan; Nghị định 336/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/10/2026, viết lại khung xử lý tại Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN.
1. Sự kiện: một diễn đàn đặt "hải quan" vào trung tâm
Ngày 8/10/2026, Diễn đàn Thương mại điện tử xuyên biên giới Việt Nam (VOIEF 2026) diễn ra tại Hà Nội với chủ đề "Tác động của chuyển đổi số trong hải quan". Diễn đàn do Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) phối hợp với Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (iDEA, Bộ Công Thương) tổ chức, thu hút hơn 250 đại biểu từ cơ quan quản lý nhà nước, sàn thương mại điện tử, đơn vị logistics, tổ chức hỗ trợ xuất khẩu và cộng đồng TMĐT xuyên biên giới.
VOIEF nằm trong Chương trình xúc tiến TMĐT xuyên biên giới do VECOM triển khai thường niên từ năm 2017, nhằm đánh giá cơ hội và thách thức, thảo luận chính sách và giải pháp, chia sẻ biện pháp hỗ trợ. Điểm khác biệt năm nay: trọng tâm bàn thảo không còn chỉ là "làm sao bán hàng ra ngoài", mà là "khi hàng đi ra, hải quan nhìn thấy nó như thế nào".
2. Số liệu chính: nền tảng lớn, xuất khẩu trực tuyến tăng nhanh, tỷ trọng còn nhỏ
Chỉ tiêu
Giá trị
Phạm vi
Quy mô thị trường TMĐT Việt Nam
khoảng 31 tỷ USD
Năm 2025, nhóm 10 lớn nhất thế giới, thứ ba ASEAN
Tăng trưởng xuất khẩu trực tuyến
+78%
Năm 2025, xuất khẩu qua kênh TMĐT
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua kênh TMĐT
khoảng 4,45 tỷ USD
Chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng thương mại
Quy mô xuất khẩu trực tuyến
khoảng 2 tỷ USD
Năm 2025 (số liệu iDEA)
Thị trường TMĐT xuyên biên giới toàn cầu
khoảng 791,5 tỷ USD
Cùng kỳ (iDEA dẫn nguồn)
Tại diễn đàn, bà Lai Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, gọi TMĐT xuyên biên giới là "cánh cửa thứ hai" cho doanh nghiệp Việt Nam - giúp tiếp cận người tiêu dùng quốc tế trực tiếp hơn, giảm một phần chi phí trung gian và thời gian so với kênh xuất khẩu truyền thống. Nhưng bà cũng nêu rõ thực tế: tổng quy mô vẫn còn nhỏ, dư địa tăng trưởng rất lớn.
3. Một bộ số liệu lạnh hơn: doanh nghiệp Việt mới chạm phần nhỏ của cái đĩa
Báo cáo cập nhật ngành TMĐT của SHS Securities công bố cuối tháng 9/2026 đưa ra một hệ quy chiếu khác:
Thị trường TMĐT xuyên biên giới toàn cầu đã vượt 800 tỷ USD, trong khi doanh nghiệp Việt Nam mới chạm khoảng 5,5 tỷ USD (trong đó xuất khẩu khoảng 2 tỷ USD);
Giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ doanh nghiệp dùng website hoặc ứng dụng TMĐT để xuất khẩu chỉ dao động 14%-19%, cho thấy kênh này chưa tạo được xu hướng bền vững;
Trong các thị trường mục tiêu của xuất khẩu trực tuyến, Trung Quốc chiếm 43%, Nhật Bản 30%, Hàn Quốc 28%, EU 17%, Mỹ 12%;
Khoảng 35% doanh nghiệp cho biết xuất khẩu qua kênh TMĐT chiếm dưới 10% tổng giá trị xuất khẩu, chỉ 14% doanh nghiệp nói tỷ lệ này vượt 30%.
Kết luận khá trực tiếp: TMĐT vẫn giữ vai trò hỗ trợ hơn là vai trò cốt lõi trong hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam. SHS cũng chỉ ra rào cản chính: chi phí logistics cao, thời gian giao hàng quốc tế dài, cùng hạn chế về kho ngoại quan và trung tâm phân loại khu vực biên giới.
Bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), nhìn tiềm năng xuất khẩu trực tuyến qua ba khía cạnh: sản phẩm, thị trường và kênh hỗ trợ. Bà cho biết nhóm sản phẩm dùng sàn TMĐT vẫn tập trung ở một số mặt hàng tiêu dùng, các nhóm khác còn rất hạn chế; về thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu trực tuyến có xu hướng tập trung vào một số thị trường gần, còn điểm đến xa hơn gặp khó vì yêu cầu vận tải và thủ tục nước nhập khẩu. Bà cũng nhấn mạnh vấn đề thông tin: "thông tin cần chính xác và đầy đủ", doanh nghiệp không nên chỉ dựa vào thông tin do cơ quan trong nước cung cấp mà cần chủ động nghiên cứu quy định của thị trường đích.
4. Hải quan số: Điều 16a đưa TMĐT xuyên biên giới vào vòng giám sát
Ông Nguyễn Thu Huyền, Phó trưởng nhóm NV4 thuộc Cục Giám sát quản lý về hải quan, cho biết sự phát triển nhanh của TMĐT và các mô hình kinh doanh mới đã tạo ra nhu cầu về thủ tục hải quan riêng. Trước đây, hàng hóa giao dịch qua sàn TMĐT có thể áp dụng thủ tục khác nhau tùy phương thức vận tải, chưa có quy trình thiết kế riêng cho giao dịch TMĐT.
Luật Hải quan sửa đổi, tại Điều 16a, quy định hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua sàn TMĐT phải làm thủ tục hải quan và chịu sự kiểm tra, giám sát của hải quan. Yêu cầu kèm theo gồm:
Tổ chức, cá nhân Việt Nam mua bán hàng hóa với nước ngoài qua sàn TMĐT phải thực hiện xác thực và định danh điện tử;
Chủ quản nền tảng TMĐT khi thực hiện xác thực điện tử phải kết nối với hệ thống xử lý dữ liệu TMĐT của hải quan;
Chủ quản nền tảng, doanh nghiệp kho ngoại quan, doanh nghiệp vận tải hoặc đại lý của họ và các tổ chức, cá nhân liên quan đều có nghĩa vụ cung cấp thông tin hàng hóa cho hải quan;
Người khai hải quan có lịch sử tuân thủ tốt được ưu tiên làm thủ tục thông quan, giảm mức độ kiểm tra và kiểm tra sau thông quan.
Cơ quan hải quan đang xây hệ thống xác thực điện tử và trao đổi thông tin liên ngành. Theo ông Huyền: "Để giảm chi phí tuân thủ, cơ quan hải quan đang phát triển phần mềm xác thực định danh điện tử giữa các cơ quan nhà nước, ví dụ giữa Bộ Tài chính và Bộ Công an, đồng thời để sàn TMĐT kết nối vào hệ thống nhằm hưởng lợi, thay vì phải tự làm việc này."
Hệ thống hải quan số được thiết kế quản lý xuất nhập khẩu từ đầu đến cuối quy trình: số hóa thủ tục hải quan và cho phép chia sẻ thông tin từ dữ liệu trước khi hàng đến, qua đó phục vụ đánh giá rủi ro, giảm nhu cầu kiểm tra thực tế và tạo thuận lợi thông quan. Hệ thống phát triển theo kiến trúc mở, có thể kết nối và trao đổi thông tin với hệ thống chính phủ khác và hệ thống quốc tế.
5. Nghị định 336/2026/NĐ-CP: từ 15/10, khung "một cửa" được viết lại
Song song với diễn đàn là thay đổi ở tầng thủ tục hành chính. Chính phủ ban hành Nghị định 336/2026/NĐ-CP ngày 22/8/2026, có hiệu lực từ 15/10/2026, thay thế Nghị định 85/2019/NĐ-CP, quy định thủ tục đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và phương tiện vận tải nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, trong khuôn khổ Cơ chế một cửa quốc gia (NSW) và một cửa ASEAN (ASW).
Với doanh nghiệp, một số chi tiết thực thi cần xác nhận trước:
Tài khoản và chữ ký số: có thể đăng ký tài khoản và chữ ký số trên Cổng một cửa quốc gia, hoặc dùng tài khoản định danh điện tử VNeID để đăng ký, đăng nhập. Nhưng đăng nhập bằng VNeID không thay thế chữ ký số theo quy định - hồ sơ phải có chữ ký số của người có thẩm quyền khi thủ tục yêu cầu;
Chứng thư số nước ngoài không mặc nhiên được chấp nhận: chứng thư số do nước ngoài cấp phải được cấp phép sử dụng tại Việt Nam;
Định dạng hồ sơ: chứng từ điện tử phải đáp ứng định dạng và yêu cầu pháp lý của thủ tục tương ứng. Khi chuyển hồ sơ giấy sang bản điện tử phải bảo toàn đầy đủ nội dung và ký bằng chữ ký số đã đăng ký, chỉ tải bản scan có thể không đáp ứng yêu cầu;
Theo dõi hồ sơ: cổng tiếp nhận khai báo điện tử 24/7 và tự động chuyển đến hệ thống của các bộ, ngành. Nộp thành công không đồng nghĩa được phê duyệt hoặc thông quan - quyết định thông quan của hải quan dựa trên kết quả xử lý do cơ quan chuyên ngành chuyển sang hệ thống hải quan;
Mã số định danh hàng hóa: là mã điện tử do hệ thống hải quan cấp để nhận diện và theo dõi hàng nhập khẩu xuyên suốt hải quan và các thủ tục liên quan; lộ trình triển khai theo nghị định hướng dẫn thi hành của Chính phủ, không nhất thiết áp dụng cho toàn bộ hàng nhập khẩu từ 15/10;
Chuyển tiếp: hệ thống của bộ, ngành chưa thể trả kết quả theo định dạng yêu cầu có thể tiếp tục dùng định dạng riêng đáp ứng chuẩn dữ liệu của Bộ Tài chính trong thời gian nâng cấp, tối đa một năm.
6. Tín hiệu thực hành tại diễn đàn: gói trọn bốn khâu
Tại diễn đàn, OSB, Tổng công ty Bảo hiểm Quân đội (MIC), Vinacontrol và T&M Logistics đã ký biên bản ghi nhớ dưới sự bảo trợ của VECOM, ra mắt gói dịch vụ 4C GO GLOBAL:
OSB (đại lý được ủy quyền của Alibaba.com tại Việt Nam từ 2009) - tìm khách hàng quốc tế, phát triển thị trường nước ngoài qua sàn TMĐT;
MIC - tư vấn quản trị rủi ro và bảo hiểm hàng hóa quốc tế, từ đăng ký hợp đồng đến hỗ trợ bồi thường;
Vinacontrol - dịch vụ chứng nhận và giám định hàng hóa, giúp đơn vị xuất khẩu đáp ứng yêu cầu tuân thủ;
T&M Logistics - tư vấn phương án vận tải và thủ tục hải quan.
Phía Việt Nam gọi đây là lần đầu tích hợp bốn khâu dịch vụ vào một gói, cho phép doanh nghiệp tiếp cận hỗ trợ xuất khẩu đầu-cuối qua một đầu mối, thay vì phải tự tìm và điều phối từng đơn vị ở mỗi công đoạn. Vấn đề phía sau được ông Trần Minh Thắng (Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương) mô tả: doanh nghiệp thường phải tự nhận diện và xác minh đối tác, rồi làm việc với nhiều nhà cung cấp dịch vụ khác nhau, khiến quy trình phân mảnh, kéo dài thời gian chuẩn bị xuất khẩu và làm tăng chi phí giao dịch.
7. Sáu việc doanh nghiệp nên làm ngay
Xác nhận sự nhất quán giữa chủ thể và tài khoản sàn TMĐT: điều kiện tiên quyết để xác thực định danh điện tử và kết nối dữ liệu hải quan là thông tin chủ thể, mã số thuế, tài khoản ngân hàng và tài khoản sàn phải khớp nhau.
Coi "thông tin trước" là một phần quy trình: trong bối cảnh nền tảng phải cung cấp dữ liệu đơn hàng và thanh toán cho hải quan, mô tả hàng hóa, số lượng, đơn vị tính, xuất xứ, nhà sản xuất phải nhất quán giữa chứng từ vận tải và tờ khai.
Rà soát tài khoản một cửa và chữ ký số: kiểm tra tài khoản và thông tin liên hệ còn hiệu lực, đăng ký lại khi cần; khi gia hạn chứng thư số hoặc đổi cặp khóa phải đăng ký lại thông tin liên quan.
Xác định rõ người chịu trách nhiệm khai báo: nếu đại lý hải quan hoặc đơn vị logistics khai thay, cần thỏa thuận bằng văn bản ai chuẩn bị hồ sơ, ai ký, ai nộp và ai theo dõi phản hồi của cơ quan quản lý.
Chuẩn bị hồ sơ tuân thủ theo nhóm hàng và thị trường đích: các nhóm chịu quản lý chuyên ngành như thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm, thiết bị y tế phải đáp ứng quy định chuyên ngành ngoài quy định về TMĐT.
Chuẩn bị phương án dự phòng bằng hồ sơ giấy: khi cổng gặp sự cố hoặc bất khả kháng, có thể xử lý bằng hồ sơ giấy hoặc hệ thống của bộ, ngành theo hướng dẫn của cơ quan chịu trách nhiệm, đồng thời lưu thông báo sự cố và bằng chứng nộp hồ sơ.
8. Mốc thời gian và nguồn dữ liệu
22/8/2026: Chính phủ ban hành Nghị định 336/2026/NĐ-CP thay thế Nghị định 85/2019/NĐ-CP.
Cuối tháng 9/2026: SHS Securities công bố báo cáo cập nhật ngành TMĐT với số liệu về quy mô doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường xuyên biên giới.
8/10/2026: VOIEF 2026 diễn ra tại Hà Nội; bốn đơn vị ký biên bản ghi nhớ và ra mắt gói 4C GO GLOBAL.
15/10/2026: Nghị định 336/2026/NĐ-CP có hiệu lực, Cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN áp dụng khung mới; thời điểm lên sóng của từng thủ tục theo công bố riêng của Bộ Tài chính và các bộ, ngành liên quan.
1/3/2027: Luật Hải quan sửa đổi cùng các quy định TMĐT xuyên biên giới (gồm nội dung liên quan Điều 16a) có hiệu lực; ngưỡng giá trị và hướng dẫn chi tiết do Chính phủ quy định riêng.
📎 Nguồn: VietnamPlus (TTXVN) ngày 8/10/2026 về VOIEF 2026; BizHub / Vietnam News ngày 8/10/2026 về hải quan số cho TMĐT xuyên biên giới; Vietnam News / SHS Securities cuối tháng 9/2026 về thị phần xuất khẩu trực tuyến; Vietnam Briefing về các điểm thực thi của Nghị định 336/2026/ND-CP; tổng hợp phát biểu công khai của iDEA và VECOM. Số liệu giữ nguyên theo phạm vi công bố của các nguồn nêu trên; các hướng dẫn chưa rõ (ngưỡng giá trị, lộ trình cụ thể) không được dùng làm kết luận.